Có câu chuyện “cực thuyết phục” nhưng bán được không (Kỳ 2)

101
Đọc xong, thấy hợp lý nhưng độc giả  không thấy được điều gì đủ cụ thể để hành động | Ảnh minh họa | Ngồn: pexels.com

Bài có thể trôi chảy, giàu cảm xúc, tạo thiện cảm ngay từ lần đọc đầu tiên. Nhưng trong truyền thông, câu hỏi quan trọng thường đến sau đó, nội dung có khiến bạn đọc hiểu rõ, tin đủ, và hành động không?

Từ một bài đăng trên Facebook, thử nhìn lại hiệu quả thực sự của nội dung được xây dựng gần như hoàn toàn bằng AI

Bài đúng chuẩn về cảm xúc

Đoạn nội dung sau đây khá quen thuộc với nhiều fanpage hiện nay, “gia đình anh Tiến… tất cả các thành viên đều có vấn đề sức khỏe… và rồi hôm nay… chỉ số ổn định, không còn cần dùng thuốc như trước…”

Nếu đánh giá bề mặt, rất khó chê. Bài có chuyện, có nhân vật, có hành trình, và có kết quả. Ngôn từ trôi chảy, cảm xúc tích cực, thông điệp rõ. Ở mức độ đọc lướt, chuyện là nội dung hấp dẫn.

Dấu hiệu nội dung AI khó chuyển đổi

Kết quả được nói rõ, nhưng quá trình thì không

Nhiều cảm xúc, ít dữ kiện

Có chuyện, nhưng không có điều kiện áp dụng

Đọc xong thấy hợp lý, nhưng không biết làm gì tiếp theo

Đọc kỹ hơn, bài đang nói điều gì

Nếu dừng một chút, nhiều câu hỏi bắt đầu xuất hiện, “chỉ số ổn định” là chỉ số nào; “không cần dùng thuốc” trong trường hợp nào; quá trình này diễn tiến trong bao lâu. Các chi tiết quan trọng nhất không có. Khi đó, bài bắt đầu bộc lộ đặc điểm quen thuộc của nội dung do AI tạo tác, đúng về cấu trúc nhưng thiếu điểm neo thực tế.

Phân tích ngữ dụng học, bài đang nói gì với độc giả

Ở góc độ ngữ dụng học, ngoài việc cung cấp thông tin và nói về kết quả, nội dung còn khiến bạn đọc cảm thấy kết quả ấy đã được xác lập, thay vì được chứng minh. “Chỉ số ổn định” gợi kết quả tích cực, “không cần dùng thuốc” gợi thay đổi lớn, và “hành trình đồng hành” gợi phương pháp.

Nhưng tất cả dừng ở mức gợi, không phải chứng minh. Độc giả vì thế hiểu ý nghĩa nhưng không nắm cụ thể.

 Bài đủ tốt để chuyển đổi” cần gì?

Bài cần có ít nhất một chi tiết cụ thể (số liệu, thời gian, trường hợp), phân biệt rõ câu chuyện với phương pháp, trả lời câu hỏi “liên quan gì đến tôi?” và không để độc giả tự suy diễn phần quan trọng nhất.

Hiệu quả truyền thông, hấp dẫn khác chuyển đổi

Kết quả rõ nhưng cách đạt được kết quả thì không | Ảnh minh họa| Nguồn: storypick.com

Nếu nhìn theo ba lớp hiệu quả, bài cho thấy nghịch lý khá rõ. Chuyện có sức hấp dẫn, giữ được chú ý, và tạo thiện cảm khá nhanh. Tuy nhiên, niềm tin nó mang tới mới dừng ở bề mặt, độc giả có thể tin kết quả tốt đã xảy ra, nhưng chưa đủ dữ kiện để tin sâu.

Một số nghiên cứu về hành vi độc giả, trong đó có thử nghiệm từ Trường Quản lý MIT Sloan (trường kinh doanh danh tiếng thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) tại Cambridge, Mỹ, nổi tiếng toàn cầu về đào tạo quản lý kết hợp công nghệ), chỉ ra nội dung do AI tạo thường được đánh giá là khá rõ, dễ đọc, nhưng mức độ tin cậy giảm khi thiếu trải nghiệm thực hoặc thiếu các chi tiết có thể kiểm chứng.

Quan trọng hơn, khả năng chuyển đổi gần như không xảy ra. Sau khi đọc xong, độc giả chỉ biết rằng có một gia đình đã khỏe trở lại, có phương pháp có vẻ hiệu quả, nhưng các câu hỏi cốt lõi như phương pháp cụ thể là gì, có phù hợp với mình không, hay nên bắt đầu từ đâu, đều không có câu trả lời rõ. Khi thiếu điểm bám cụ thể, hành vi của độc giả thường dừng ở đọc, thấy hợp lý rồi tiếp tục lướt qua.

Khoảng trống không nằm trong nội dung cũng không phải bài sai. Vấn đề nó không đủ để hoàn thành mục tiêu truyền thông.

Khoảng trống về thông tin dẫn đến hệ quả quen thuộc, nội dung tạo thiện cảm nhưng không tạo nhận thức rõ, và vì thế, không thúc đẩy hành động.

Trên không gian mạng, nhiều bài cùng sử dụng cách kể tương tự, thông điệp dần trở nên giống nhau, và dễ tạo cảm giác chung chung, khó phân biệt, thậm chí, mang màu sắc quảng bá nhiều hơn thông tin.

Nếu viết khác đi, kết quả sẽ khác

Vẫn là câu chuyện đó, nhưng chỉ cần thêm thời gian cụ thể (ba tháng, sáu tháng…), chỉ số rõ (trước – sau), điều kiện áp dụng, và vai trò chuyên gia, bài sẽ thay đổi đáng kể. Chưa nói hay hơn, quan trọng ở chỗ độc giả có thứ để hiểu, và để cân nhắc.

Nếu trong bài, chuyện có thể tạo cảm giác đã có kết quả, thêm hình ảnh và video, mức độ thuyết phục còn đi xa hơn.

Khi trông thấy điều gì đó, độc giả thường ít đặt câu hỏi hơn so với khi chỉ đọc.

Kỳ tiếp theo, VFEJ sẽ đi vào cách hình ảnh và video được sử dụng để tạo niềm tin, điều gì xảy ra khi trông rất thật không đồng nghĩa có thể kiểm chứng.

Gợi mở thảo luận

Bạn từng đọc một chuyện khiến mình thấy thuyết phục, nhưng sau đó nhận ra mình không có đủ thông tin để quyết định?

Với những ai làm nội dung, câu hỏi có lẽ còn rõ hơn: “Làm thế nào để bài vừa hấp dẫn, vừa đủ cụ thể để độc giả có thể hành động?”

VFEJ mong nhận thêm chia sẻ từ bạn để chuyện này được nhìn từ nhiều phía hơn.

Trang Hồng (t/h)|

Kỳ 1: AI viết nội dung nhưng không thể tạo niềm tin

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

BÁO CÁO & PHÂN TÍCH

THANH HOÁ
Ly café mang đi giờ không còn là “chi phí nhỏ” (kỳ 2)

Một ly café mang đi từng được xem là chi tiết nhỏ của đời sống đô thị. Chỉ vài phút mua hàng, chiếc ly nhựa, nắp đậy, ống hút và túi mang đi nhanh chóng trở thành một phần quen

23/05/2026

Thêm về Thanh Hoá

BÌNH THUẬN
Thị trường carbon Việt Nam: “Tiền tệ xanh” đã sẵn sàng giao dịch

▌ SERIES: VIỆT NAM HƯỚNG TỚI NET ZERO 2050 (BÀI 1) Còn vài năm nữa là đến mốc 2028, thời điểm Việt Nam cam kết vận hành chính thức sàn giao dịch tín chỉ carbon. Hạ tầng pháp lý đã

22/05/2026

Thêm về Bình Thuận

QUẢNG NINH
E10: Hành trình từ cánh đồng đến bình xăng

  Thông tin bán xăng E10 trên toàn quốc khiến chúng ta thường nghĩ câu

22/05/2026

Thêm về Quảng Ninh

BÀ RỊA VŨNG TÀU
Nhật Bản biến dự báo thời tiết thành thông điệp khí hậu

Trong các bản tin thời tiết truyền thống, thông tin thường xoay quanh các yếu

21/05/2026

Thêm về Bà Rịa - Vũng Tàu

HẢI PHÒNG
Truyền thông ngữ dụng học trong báo chí môi trường (Kỳ 5)

Qua bốn kỳ trước, chuỗi phân tích lần lượt chỉ ra điểm nghẽn quen thuộc

10/05/2026

Thêm về Hải Phòng