
Một thảm cỏ biển dưới nước có thể bị bỏ qua trong mắt số đông, nhưng lại giữ những giá trị quan trọng cho khí hậu và đời sống ven biển. Từ Cù Lao Chàm, các kết quả nghiên cứu cho thấy cỏ biển ở dây vừa hấp thụ carbon, vừa góp phần duy trì nguồn lợi thủy sản và khả năng chống chịu của cộng đồng địa phương.
Những con số từ Cù Lao Chàm
Không phải ở đâu xa, ngay tại Cù Lao Chàm, các thảm cỏ biển đang cho thấy vai trò cụ thể trong hấp thụ carbon. Theo PGS.TS. Hoàng Công Tín (Trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế) và nhóm nghiên cứu, hệ sinh thái cỏ biển tại đây ước tính hấp thụ khoảng 55,3 tấn CO₂ mỗi năm, tương đương trung bình 3,02 tấn CO₂/ha/năm
Đáng chú ý, trong tham luận tại hội thảo carbon xanh ở Hải Phòng vừa qua, PGS.TS. Hoàng Công Tín cho biết phát thải carbon từ các thảm cỏ biển hiện được xác định ở mức bằng 0. Kết quả này dựa trên phương pháp luận quốc tế như tiêu chuẩn Verified Carbon Standard, đồng thời phản ánh thực tế khu bảo tồn đã duy trì ổn định nền đáy hơn 20 năm, hạn chế xáo trộn sinh thái.
Ở góc độ trữ lượng, nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng các khu vực như Bãi Xếp và Bãi Bấc đang đóng vai trò như những “bể chứa carbon” quan trọng, với loài cỏ biển Thalassia hemprichii chiếm ưu thế về sinh khối.
Tuy nhiên, cũng theo PGS.TS. Hoàng Công Tín, các con số này mới chỉ phản ánh một phần bức tranh, do chưa tính đến lượng carbon trong trầm tích, nơi có thể lưu trữ hơn 90% tổng lượng carbon của hệ sinh thái cỏ biển.
Giá trị carbon, giá trị hệ sinh thái
Giá trị của cỏ biển là lượng carbon hấp thụ, song cũng vai trò duy trì hệ sinh thái và sinh kế ven biển. Nếu chỉ nhìn vào con số, chúng ta sẽ bỏ qua phần quan trọng nhất.”, PGS.TS. Hoàng Công Tín.
Nếu chỉ nhìn vào các con số hấp thụ CO₂, cỏ biển dễ bị hiểu như một “công cụ khí hậu”. Song thực tế rộng hơn nhiều. Theo nhóm nghiên cứu của Đại học Huế, các thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm còn đóng vai trò duy trì đa dạng sinh học, cải thiện chất lượng nước và tạo sinh kế cho cộng đồng ven biển.
Chính vì vậy, diện tích cỏ biển suy giảm, có nơi giảm tới 80% ở khu vực miền Trung, tác động sẽ lan sang nguồn lợi thủy sản và đời sống của cư dân.
Ở đây, “carbon xanh” không còn là khái niệm xa xôi. Nó gắn trực tiếp với những thay đổi có thể cảm nhận được.
Những điều kiện mong manh để giữ lại cỏ biển

Đằng sau những con số tích cực là một hệ sinh thái khá “nhạy cảm”. Theo PGS.TS. Hoàng Công Tín, sự tồn tại của cỏ biển phụ thuộc chặt chẽ vào ánh sáng, chất lượng nước, trầm tích và điều kiện thủy động lực.
Chỉ cần tỷ lệ ánh sáng xuống đáy dưới 10%, cỏ biển gần như không thể tồn tại; trong khi nhiệt độ nước vượt ngưỡng 30–35°C có thể gây stress nhiệt và dẫn đến suy thoái. Những yếu tố tưởng như nhỏ này lại quyết định sự sống còn của toàn bộ hệ sinh thái.
Điều đó cho thấy, phục hồi cỏ biển là một bài toán tổng hợp giữa tự nhiên và quản lý cộng đồng chứ không đơn thuần là “trồng lại” sự suy giảm.
Con số cần được hiểu đúng
Một con số như 55,3 tấn CO₂ mỗi năm là kết quả nghiên cứu. Nhưng với công chúng, con số này chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trong bối cảnh đời sống.
Theo cách tiếp cận ngữ dụng học, ý nghĩa của thông tin nằm ở cách nó được diễn giải, không nằm ở bản thân dữ liệu. Nếu không có ngữ cảnh, “carbon xanh” có thể chỉ dừng lại ở một thuật ngữ, thay vì trở thành động lực hành động.
Con số cần được “dịch”
55,3 tấn CO₂ mỗi năm là một kết quả khoa học.
Nhưng với bạn đọc, điều quan trọng hơn là:– Nó giúp ích gì cho sinh kế ven biển?
– Nó liên quan gì đến biến đổi khí hậu đang diễn ra?
– Nó có thể tạo ra giá trị kinh tế trong tương lai hay không?Những câu hỏi này chưa được trả lời, thông tin dễ bị bỏ qua – dù hoàn toàn chính xác.
Giữ lại những thảm cỏ biển là giữ một “bể chứa carbon”, và cũng là giữ lại sinh kế, nguồn lợi và khả năng chống chịu của cộng đồng ven biển trước những biến động ngày càng rõ rệt của khí hậu
Gợi mở cách truyền thông carbon xanh
Từ các số liệu nghiên cứu, thách thức nằm ở cách những thông tin đó được diễn giải tới công chúng.
Trước hết, các kết quả nghiên cứu cần được đặt trong bối cảnh đời sống, thay vì chỉ trình bày dưới dạng số liệu.
Tiếp theo, các khái niệm như carbon flux, carbon stock hay tín chỉ carbon cần được diễn giải bằng ngôn ngữ dễ hiểu để thu hẹp khoảng cách giữa chuyên gia và công chúng.
Đồng thời, nên kể câu chuyện từ thực địa: như các bãi cỏ biển cụ thể hoặc hoạt động phục hồi, để giúp thông tin trở nên “có hình hài”.
Cuối cùng, truyền thông cần chủ động dự đoán cách công chúng có thể hiểu khác đi, thay vì chỉ dừng ở việc truyền đạt thông tin chính xác.
Nếu thông tin được đặt đúng ngữ cảnh và gắn với đời sống, “carbon xanh” sẽ trở thành điều công chúng có thể hiểu, quan tâm và tham gia và, đó là khái niệm không xa lạ.
Ảnh đề xuất
Ảnh: Khảo sát và phục hồi cỏ biển tại Cù Lao Chàm
Chú thích ảnh:
Thông tin tham khảo từ trình bày của PGS.TS. Hoàng Công Tín (Trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế; Trưởng nhóm nghiên cứu Tài nguyên, Môi trường và Sinh thái vùng ven biển) và cộng sự tại hội thảo carbon xanh, Hải Phòng, 3/2026.
Trang Hồng – VFEJ
