Vừa qua nhà văn Nguyễn Bắc Sơn, Phó Chủ tịch Diễn đàn các Nhà báo Môi trường Việt Nam (VFEJ) đã tham gia cuộc tập huấn ngắn ngày tại Bangkok (Thái Lan) do Fredkorpset tổ chức trong Chương trình Trao đổi Nam Nam.
Bài viết sau đây đã trích đăng trên báo An Ninh Thủ Đô cuối tuần trong tháng 5/2010. Để hình dung rõ hơn một mặt hoạt động nữa của VFEJ, chúng tôi xin giới thiệu trọn vẹn bài viết trên.
Đưa mọi người đến với nhau
Fredkorpset (FK) vốn là một tổ chức tình nguyện phi chính phủ Na Uy, thành lập cách đây 47 năm, sau rồi mới trực thuộc Bộ Ngoại giao nước này. Nó hoạt động độc lập bằng nguồn kinh phí nhà nước, để hỗ trợ chính phủ cho mục tiêu hợp tác và phát triển toàn diện đất nước. Na Uy trải dài trên bờ biển như Việt Nam, diện tích nhỏ hơn nước ta một chút (323.759 km2/ 331.700 km2).
Na Uy là nước phát triển ở Bắc Âu. Tính cộng đồng toàn cầu và nhân văn của người dân đất nước quân chủ lập hiến chỉ có 4,4 triệu người (1958) này thật đáng nể phục. Mong muốn xây dựng một thế giới công bằng và phát triển cho quyền sống cơ bản của con người, Na Uy coi trọng sự liên kết hợp tác với các nước đang phát triển, đặc biệt là hỗ trợ các nước nghèo nhất trong các nước nghèo, theo năm nguyên tắc: thống nhất, trao đổi, bình đẳng, đa dạng và minh bạch.
Hoạt động của FK gồm hai lĩnh vực chính: chương trình trao đổi và phát triển mạng lưới. Hiện FK đã có mạng lưới trên 60 nước ở ba châu lục Á, Phi và Nam Mỹ, trong đó có Việt Nam. Năm 1963, ngay khi mới thành lập, FK đã cử các tình nguyện viên sang Uganda và Iran.
FK tổ chức ba chương trình trao đổi: trao đổi nam – nam (giữa các nước đang phát triển), trao đổi bắc – nam (giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển), và trao đổi giữa những người trẻ tuổi. Một bên là các tổ chức, tập đoàn, các tổ chức cộng đồng Na Uy, một bên là các nước Á, Phi và Nam Mỹ.
Chúng tôi – Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam (VFEJ) được FK chỉ định làm điều phối chương trình trao đổi nam – nam với Trung Quốc và Lào. Chương trình bắt đầu bằng việc tham gia một khoá đào tạo ngắn hạn ba tuần ở Thái Lan – một trong hai nước có văn phòng đại diện của FK trên toàn thế giới.
Từ mấy năm trước VFEJ đã tham gia chương trình này. Năm 2004, chị Fawzia Nasrin, tình nguyện viên (TNV) của Diễn đàn nhà báo môi trường Bangladesh đã đến làm việc tại VFEJ. Anh Mongkhou Vongsam Ang TNV Thời báo Vientian (Lào) cũng sang làm việc ở báo Sài Gòn Giải phóng. Đổi lại, VFEJ cũng cử hai TNV sang Lào và Banglađest. Thời gian làm việc của các TNV là 8 tháng.
Lần này Diễn đàn nhà báo môi trường Trung Quốc cử hai TNV, một sang Lào và một sang Việt Nam. Lào cử một TNV sang Việt Nam. Việt Nam cử hai TNV, một sang Lào và một sang Trung Quốc. Chương trình trao đổi diễn ra trong 12 tháng. Khoá học chuẩn bị này do AIT và FK phối hợp tổ chức nhằm giúp các TNV sống và làm việc hiệu quả ở đất nước sẽ tiếp nhận mình đến làm việc.
Ba tuần tập huấn với năm đơn vị học trình là đủ hay thiếu? Nhiều hay ít? Câu trả lời phải là của các TNV sau hoặc ngay trong thời gian làm việc. Nhưng tôi thật sự ngạc nhiên khi trong các học trình ngoài những vấn đề chung về mục tiêu hoạt động của FK, của các TNV khi tiến hành trao đổi, những vấn đề về con người, về phát triển rất được FK chú trọng.
Họ chuẩn bị cho các TNV không chỉ những nguyên lí, những đặc điểm văn hóa, mà cả cách thức xử lí những cú sốc văn hóa, cách đối phó với tâm lí chán nản, e sợ hoặc cô đơn khi một mình sống ở một nước xa lạ.
Chu đáo đến mức chuẩn bị cho các TNV trẻ cả phương thức đối phó với những người khó tính, dạy họ cách xử lí khi gặp mâu thuẫn, dặn những điều cần thiết về an toàn và an ninh cá nhân, dạy cách sơ cứu khi gặp nạn. Các bà mẹ Hà Nội dạy con gái khi đi làm dâu cũng không kỹ càng hơn được.
Học kỹ năng sống bằng trò chơi
Mỗi nhóm trên dưới chục người bám chặt lấy nhau thành một con rắn. Bám vào vai, vào thắt lưng, miễn sao không bị đứt ra khi tấn công rắn khác, hoặc rắn khác tấn công vẫn không giật, kéo được đuôi (người cuối cùng ra) khỏi thân là được. Bốn con rắn quần nhau hò hét, kêu dé lên, la oai oái, ngã lăn kềnh, cười nắc nẻ.
Tôi, gã đầu bạc 70 tuổi thoắt sống lại những đêm trăng ở quê chơi trò rồng rắn lên mây với lũ bạn bè tuổi thơ. Rồi mấy chục con người thi nhau rút ra nhận xét: nếu đầu bám chặt lấy đuôi thành một vòng tròn thì bảo vệ được mình, nhưng không thể chiến thắng được kẻ khác. Muốn thắng được đối phương, cả con rắn phải mạnh, trước hết là cái đầu phải mạnh, phải mưu trí (lúc nào thì bỏ đuôi ra để cắn đuôi đối phương) trên cơ sở từng đốt phải mạnh.
Trò chơi ấy, yêu cầu cao ở thể lực. Trò chơi chuyển nước lại yêu cầu ở trí tuệ, mưu mẹo, kinh nghiệm. Các nhóm đều được trang bị 1 cuộn thừng to, 1 cuộn dây (buộc hàng) 1 xô nhựa, 1 thùng nước. Làm sao chuyển được nước từ hồ nước (thùng nước) ấy, đến một làng (một vùng giới hạn bằng một hình vuông mỗi chiều 3m), không được bước chân vào làng, mà vẫn đổ được đầy chai nước giữa làng ấy.
Các nhóm xúm lại bàn luận. Hai nhóm cùng nghĩ ra một cách, dùng dây thừng buộc xô nhựa đầy nước, khiêng xô nhựa (đã buộc dây để điều chỉnh) vào làng, kéo sợi dây điều khiển để đổ nước vào chai. Một nhóm nước rót mạnh quá làm đổ chai chịu chết không làm sao dựng lên được.
Nhóm tôi, rút kinh nghiệm, khéo léo hơn nên cũng đổ được đầy chai, trước tiếng reo hò khoái trá của mọi người. Nhược điểm là thời gian thực hiện lâu nhất. Hai nhóm kia dùng thừng “khiêng” người cùng với xô nước đầy vào làng, nhờ thế nước đổ vào chai ngon lành. Thời gian dùng rất ít. Tôi cũng đề xuất cách làm này. Tiếc rằng không thuyết phục được cả nhóm vì phải qua TNV dịch, mà là dịch ngược nên có phần lúng túng.
Trò Chơi dạy người ta bài học: Thách thức thế nào rồi cũng tìm ra được giải pháp. Ấy là nhờ sức nghĩ của mọi người góp lại. Nói thế thì đúng nhưng bảo, ba thợ giầy thành một Gia Cát thì…, câu này là của một lãnh tụ nước nọ nhằm huy động hiến kế của mọi người thôi. Nó chỉ đúng khi cần những mẹo vặt giải quyết những chuyện vụn vặt trong đời sống lao động hàng ngày thôi.
Những bài toán xã hội lớn cần phải có những trí tuệ lớn của những bậc trí giả, các nhà tư tưởng lớn. Ba, chứ ba trăm triệu thợ giầy cộng lại cũng chẳng thể bằng được một trí tuệ Gia Cát. Thợ chỉ có thể nghĩ ra mẹo.
Thầy mới nghĩ được ra mưu. “Mưu thầy mẹo thợ”, các cụ ta xưa đã nói rồi! Thành công, thành công đến mức độ nào, cả thất bại của nhóm này nhóm khác đều có cùng một nguyên nhân trực tiếp là việc trao đổi thảo luận giữa các thành viên trong nhóm (như nhóm tôi) chưa thật thấu đáo, hoặc sự phối hợp hành động giữa mọi người chưa ăn ý, nhịp nhàng. Cũng có thể cả nhóm chưa bầu được người chỉ huy đích thực của mình (như nhóm đánh đổ chai) các đối tác, các TNV chúng tôi rút ra kết luận như thế.
Thật là tài khi người ta nghĩ ra một trò chơi, cốt để rút ra bài học kỹ năng sống mà lại mang tính thời sự khá phổ biến ở các nước đang phát triển – Tắc đường.
Mỗi nhóm chọn cho mình một màu. Đó là những tấm nhựa xốp. Thấy nhóm tôi chọn màu đỏ, anh Rây người Philíppin, chuyên viên của AIT phụ trách trò chơi cười phô hàm răng trắng đều đặn: Không được mang ra đường phố đấy nhé! Ngoài kia những người áo đỏ, mũ đỏ, cờ đỏ, đang vẩy máu đỏ quanh dinh thủ tướng để làm reo với chính phủ rồi. Mỗi người đứng trên những tấm nhựa – tượng trưng cho một phương tiện giao thông (xe của mình).
Trước mỗi nhóm có vài xe, người chơi chỉ được đi trên những chiếc xe của nhóm mình, sang xe của nhóm khác. Mỗi nhóm chỉ được chọn xe của một đến hai nhóm phía đối diện, không được chọn xe của hai nhóm bên cạnh. Ai di chuyển mà không tìm được xe khác sẽ bị loại. Hiệu lệnh bắt đầu cũng là bắt đầu cuộc chen lấn, xô đẩy, lộn xộn, tiếng la hét, tiếng cười. Một số người bị loại.
Triết lý rút ra là: mọi việc dù mâu thuẫn đến đâu đều có thể thương lượng, thoả thuận, để hợp tác với nhau, hai bên cùng có lợi. Nhóm này biết thương lượng với nhóm kia để hoán vị cho nhau thì sẽ không lâm vào cảnh tắc đường, sẽ không có người văng ra khỏi cuộc chơi.
Trò chơi cuối cùng, Chuyển người. Các nhóm, người nọ nằm sát người kia, xen kẽ nam với nữ, trở đầu đuôi; chuyển người của nhóm mình theo lối cuốn chiếu, lần lượt từ người đầu xuống cuối hàng, với điều kiện người được chuyển phải không được chạm bất kỳ bộ phận nào của cơ thể xuống đất. Kết cục cũng chỉ chuyển được mấy bạn cả nam lẫn nữ theo cách: người thứ nhất đứng ở đầu hàng đổ người ra phía sau. Không sợ!
Đã có những bàn tay của bạn bè đưa ra đỡ, rồi những cánh tay ấy chuyển bạn về phía sau. Nhưng cuối cùng, cũng chỉ những người thấp bé nhẹ cân được chuyển. Cỡ sáu bảy chục cân trở lên đành chịu, những cánh tay liễu yếu đào tơ mà không kham nổi sẽ làm gãy nát vài bộ sương sườn như chơi. Trò chơi này để cuối cùng là có lý do riêng.
Những người xa lạ từ 13 quốc gia chưa quen biết, phải qua tiếp xúc trong các trò chơi trên mới thắng được xấu hổ, ngượng ngùng khi đụng chạm. Nó dạy chúng ta phải tin tưởng nhau. Mình ngã sẽ có những bàn tay đưa ra đỡ, giống như những người lính chúng tôi trước kia, xông lên mà không sợ hở sườn, đã có đồng đội yểm trợ. Sợ nhất là tâm trạng cô độc giữa mọi người, mất lòng tin mọi người. Các nhà tổ chức của FK muốn khi ra nước ngoài, các TNV được sống trong tinh thần tin cậy, yên tâm, tổ chức của nước nhà cũng phải sẵn sàng chia sẻ, nâng đỡ TNV như người thân.
Một đời làm công chức, không thể đếm được đã dự bao nhiêu lớp tập huấn. Thú thật, không còn nhớ được gì. Trong ký ức tôi, chỉ còn đọng lại những gì nghiêm trang và nghiêm túc, nặng nề và khô cứng. Chưa bao giờ, chưa một ai được cười hay cười được trong các lớp tập huấn ấy vì toàn những chuyện to tát, quan trọng và nghiêm trọng. Nhưng thực tế là chẳng biết để làm gì. Hơn nửa thế kỷ trước, khi đến thăm trường C3 Chu Văn An, Hà Nội, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Nhà trường là nơi chuẩn bị cho học sinh vào đời. Lâu nay chúng ta mới chỉ dạy kiến thức (dẫu còn sách vở) không hề dạy kỹ năng sống như chúng tôi đang được cẩn thận dạy từ những trò chơi như thế.
Người với người là bạn
Lần đầu tiên tôi được dự một lễ khai mạc sang trọng nhưng giản dị và thân mật đến thế. Sang trọng bởi đây là một lớp tập huấn do FK và AIT tổ chức cho những người đến từ 13 quốc gia châu Á. Có mặt của ông Johatan giám đốc AIT mở rộng, bà Nita Kapoor người Ấn Độ, giám đốc FK, ông Sacha, trưởng văn phòng FK châu Á. Vậy mà không một ai mặc lễ phục.
Lần đầu tiên tôi thoải mái trong chiếc áo phông, như các TNV khác. Từng là quan chức nhỏ nhất (trưởng phòng) cấp sở, nhưng là phòng quản lý Báo chí, xuất bản và bản quyền, tôi đã dự không biết bao lễ khai mạc.
Nói chung là cần thiết, cũng có nhiều cuộc chỉ là hình thức. Nhưng điều phải nói là hầu hết các lễ khai mạc ấy, từ trung ương xuống địa phương, nhất là địa phương đều có cùng một kiểu giới thiệu khắp lượt, rồi kính thưa lặp đi lặp lại, sốt ruột người nghe, rất mất thời gian.
Tôi đã có một bài trên báo văn hoá, Về văn hoá giới thiệu phân tích, phê phán và kiến nghị về việc này, chỉ giới thiệu người có chức vụ cao nhất, còn thì giới thiệu chung, gộp cả lại. Nhiều năm sau thấy Chính phủ ra hẳn một nghị định, theo đề suất ấy.
Cũng trong nghị định ấy, còn quy định, không khuyến khích biểu diễn văn nghệ trước khi tiến hành một hội nghị. Đấy cũng là kết quả của một bài phê phán của kẻ ngứa mồm này trên báo An ninh Thủ Đô, Đừng tra tấn bằng văn nghệ. Tình hình ấy chỉ cải thiện được một thời gian không lâu. Giờ đâu lại hoàn đấy.
Ngày 19/3/2010 xem các bạn tổ chức lễ khai mạc khoá đào tạo lần thứ 14 tại AIT từng có hơn 4000 lượt người đã qua đây sau 14 năm càng thấy nể. Giản dị đến mức không thể giản dị hơn, đến lượt ai lên nói thì người dẫn chương trình giới thiệu người ấy. Và người ấy vô cùng giản dị, thân tình khi hỏi: trong các bạn những ai lần đầu tiên ra nước ngoài (2 người), lần đầu tiên xa gia đình (7 người).
Chúng tôi sẽ làm cho các bạn không có thì giờ mà nhớ nhà và thực tế cho thấy lúc chia tay, không chỉ một người rơi nước mắt đâu. Chúng tôi sẽ cung cấp cho các bạn những kỹ năng cần thiết cho công việc sắp tới, cộng với kỹ năng sẵn có, các bạn sẽ cải thiện được một bước đáng kể, cả trình độ tiếng Anh và kết quả hoạt động của mình. Chính các bạn quyết định sự thành công của mình chứ không phải FK hay AIT.
Bây giờ, mấy chục người quây thành một vòng tròn lớn. Hai quả bóng tenít được người này chuyền cho người bên cạnh. Một vòng, hết 30 giây. Lần thứ hai, đứng sát nhau hơn, chu vi thu hẹp lại, không phải mỗi tay đón một quả mà là hai bàn tay khép lại hứng hai trái bóng người kia đổ vào. Hết 27 giây.
Lần thứ 3, mọi người xếp thành hai vòng tròn đồng tâm. Hai vòng người quay mặt vào nhau. Bóng vẫn qua tay tất cả mọi người, nhưng thời gian lại rút được mấy giây nữa. Kết luận rút ra là, con người luôn luôn phải rút kinh nghiệm, phải cải tiến. Quỹ thời gian của mỗi người như miếng da lừa Ban Zắc mỗi ngày một co lại. Sử dụng thời gian là vấn đề của trí tuệ, là kỹ năng sống, nghệ thuật sống.
Lồng lộng tình người
Giảng viên của chúng tôi là bà Teresta Suselo, người Philippines cổ ngắn, mình ngắn, chân ngắn. Ngắn đến mức bà đứng mà chỉ bằng các học viên ngồi. Nhưng hình như bà không hề mặc cảm về điều đó. Phụ nữ có thể đi giày, dép cao trên dưới mười phân để tăng chiều cao cơ mà.
Một vị nguyên thủ quốc gia, có thấp lắm đâu mà cũng thửa giày để cao thêm dăm bảy phân nữa. Tôi nhìn xuống đôi dép rọ giản dị dưới chân bà. Nó mỏng dính như đôi dép mo cau của các bà nông dân Việt Nam nghèo ngày xưa vậy. Cái gì cũng ngắn, chỉ trí tuệ là dài. Có lẽ bà tự biết như thế. Giọng bà khúc triết mạch lạc. Sự tự tin thể hiện rõ trên gương mặt đầy đặn phúc hậu như một bà mẹ Việt Nam đã có tuổi.
Trong lớp chỉ có hai người là tôi và một người nữa không hiểu bà nói gì. Người kia ngồi như chúa Tầu nghe kèn và tôi – chỉ hiểu lõm bõm qua thông dịch viên ngồi bên. Lõm bõm thôi, bởi chính người dịch cũng chỉ hiểu lõm bõm. Hai lõm bõm thì bằng một bập bõm rồi còn gì.
Tôi tự chán mình, một chữ tiếng Anh bẻ đôi không biết. Ngày nào còn dạy học ở một tỉnh lẻ, cũng đã tự học quốc tế ngữ ESpéranto. Nhưng rồi cũng bỏ só vì chẳng ai dùng, để bây giờ… như kẻ mất sổ gạo!
Vì không hiểu gì nên tôi cho phép mình quan sát bà và những người khác. Họ đều biết tiếng Anh, nên nét mặt tỏ ra rất chăm chú. Mắt cứ sáng lên như nuốt từng lời, chứng tỏ họ rất hiểu điều bà nói. Nhiều lần bà dừng lại, đặt câu hỏi, học viên trả lời, bà phát triển, mở rộng.
Nhiều lần bà làm các học viên cười, cười thích thú bởi khoái cảm trí tuệ chứ không phải vì lối pha trò rẻ tiền. Tôi càng cảm phục người phụ nữ lùn tịt có chồng là người Inđônesia và hai đứa con đã làm nên điều kì diệu để mọi người đều gặp nhau trong tiếng cười hoà hiếu, hoà hợp, hoà đồng.
Tiếng cười xóa tan sự cách biệt. Nhìn ai cười cũng đẹp, cũng đáng yêu, cũng gần gụi thân thiết. Chị Elidabet, người Philippin, thấp đậm, nụ cười tươi rói cởi mở thân thiện. Cô Lý Nghi Nồng, người Trung Quốc, cổ cao ba ngấn cười bẽn lẽn có những nhận xét về mỗi người trong văn phòng VFEJ khiến tôi phải kinh ngạc.
Anh Tài, người Lào, sinh năm 1977, nặng 107 kg, đồ sộ như võ sĩ su mô, cười thật dễ thương sẽ sang Trung Quốc làm việc 10 tháng. Còn Poóng, cũng ở Thời báo Viên Chăn như Tài, sinh năm 1983 sẽ sang làm việc ở báo Đầu tư VN (ban Tiếng Anh) có gương mặt rắn rỏi, chỉ có 52 kg cười rụt rè hỏi tôi, Hà Nội có nhà thờ không? Có một cô gái cao dong dỏng, đầu, mặt như một vũ nữ Ba lê, đẹp từng cm, chân dài miên man, tóc vàng búi cao, người của văn phòng FK nên chắc hẳn là người Na Uy.
Tôi đưa sổ tay, ra ý để cô ghi tên mình. Hàm răng đều, trắng cười mê hồn. Môi dưới hơi dẩu dẩu mấy cái thật đáng yêu trong khi tay vẽ một con mèo đủ cả đôi tai, sáu cái ria dài, cái đuôi cong tớn rồi viết chữ cat bên cạnh, dưới ghi địa chỉ hòm thư. Hóa ra con mèo xinh xắn này tên là Catherine, người thân gọi là mèo con, bố người Úc, mẹ người Thái, làm nhân viên FK được năm năm rồi.
Tôi bảo gien trội ở bố cô rất cao, cháu Hương, TNV VN sẽ sang làm việc ở Trung Quốc, quay sang bảo không dịch được. Nhưng chả sao, vẫn hiểu được nhau nên cô mới nói thêm, ông bà ngoại cô lại là người Trung Quốc.
Bây giờ hôn nhân không biên giới là chuyện tự nhiên như bản chất cuộc sống vậy. Với cộng đồng châu Âu và khối Đông Nam Á bây giờ, biên giới cũng chỉ còn là ranh giới lãnh thổ, không phải xin visa nữa. Khi ngôn ngữ không còn là rào cản thì có gì ngăn được con tim đã tìm được nửa của mình.
Nhiều người, phần nào đó có tôi, cứ lấy làm lạ, khi thấy nhiều cô gái Việt không đẹp theo kiểu truyền thống (ví dụ nhất dáng nhì da) mà các chàng ngoại quốc cứ mê tít.
Có lẽ quan niệm về cái đẹp phụ nữ của tôi không theo kịp với thiên hạ chăng? Cái câu Nhan sắc chỉ cần một lần trong lễ cưới, còn tình yêu thì cần suốt đời đã là một chân lí. (dĩ nhiên tương đối thôi).
Có lẽ điều cốt yếu là hiểu được nhau, có khả năng chia sẻ, cảm thông, nhất là khả năng hợp tác, khả năng thích nghi với mọi hoàn cảnh sống, với nhiều nền văn hóa khác nhau, có khả năng hài hòa giữa đời sống tinh thần và đời sống vật chất.
Thảo Griffis, trưởng văn phòng Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, nhân vật trong một bài ký dài của tôi, là một người như thế. Chị Nisa người Thái Lan, chuyên viên văn phòng FK châu Á cũng là một người như thế.
Cái cách chị lắng nghe và giải quyết những mâu thuẫn quan niệm nho nhỏ giữa TNV Việt Nam ở Trung Quốc trong lần họp giữa kỳ ở Hà Nội đầu tháng 10/2009 và cuộc họp cuối kỳ ở Bắc Kinh cuối tháng 12/2009 làm tôi tâm phục, khẩu phục.
Và một điều nữa cũng thú vị, những người phụ nữ thế này và tất cả phụ nữ dự lớp tập huấn, cả những người quản lí, các đối tác, không một ai đeo nữ trang và trang điểm. Có thời, một lãnh tụ nước nọ, hô hào phụ nữ nước mình bất ái hồng trang, ái vũ trang (không thích điểm trang, chỉ thích vũ trang). Quan niệm ấy cùng với quan niệm Súng đẻ ra chính quyền đã lỗi thời và những người phụ nữ thời đại ở bất kỳ nước nào cũng đều muốn vươn lên thành người phụ nữ toàn cầu.
Chưa bao giờ tôi chứng kiến một lớp tập huấn vui như thế. Chưa bao giờ tôi ngồi cùng lúc với các bạn mang nhiều quốc tịch đến thế. Chợt xót thương cho chính mình bởi sự ấu trĩ kém cỏi đầu đời. Khi ấy, tôi chỉ biết đủ các thuộc tính của văn chương, trừ thuộc tính quan trọng nhất làm nên giá trị nhân loại – nhân tính. Mặc dầu vẫn thuộc lòng câu ông cha ta dạy – một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
Hồi chống Pháp chúng tôi vẫn hát: Vàng đen trắng nước da không chia tấm lòng. Biên giới kia ngăn chặt mối dây thân tình. Phản động kia không ngăn lòng yêu chứa chan. Có đoàn thiếu nhi, chỉ mong yên vui thái bình… (nhạc sĩ Lưu Hữu Phước). Mãi đến bây giờ mới thành hiện thực, không phải chỉ với trẻ con mà là với người lớn. Mãi gần đây mới biết thế giới người ta có hẳn một môn khoa học gọi là nhân loại học.
Khoan dung
Đêm trước ngày chia tay về nước, chúng tôi quây quần bên mấy chai bia, một chai cocacola. Tôi bảo các bạn Lào là, rất ngạc nhiên khi thấy cờ Đảng của Lào vẫn là cờ búa liềm của Đảng Cộng sản Đông Dương một thời.
Rằng tôi rất khoái khi sang đấy, thấy nước bạn nhất thể hoá đúng như trong tiểu thuyết Lửa đắng của tôi – Bí thư Đảng và Chủ tịch chính quyền là một. Tôi khoe rằng, Chủ tịch Suva Nuvông và Tổng bí thư Cay Xỏm Nôm vi hẳn từng là học sinh trường Bưởi mà có mười năm tôi làm công tác quản lí ở đây.
Anh Manichanh, trưởng ban kinh tế thời báo Viên Chăn thì kể rằng đã cùng các bạn qua cửa khẩu cầu treo Hà Tĩnh sang Cửa Lò chỉ để được tắm biển một lần. Lào không có biển, ta đã cho bạn thuê một phần cảng Đà Nẵng để thông thương với thế giới.
Tôi nâng bàn tay anh bạn Pu Tan lên ngắm. Lòng bàn tay anh trắng bệch, nhưng mu bàn tay đen nhẻm. Anh buộc chỉ cổ tay, với ý nghĩa là lời cầu chúc may mắn. Anh bảo cái này Chúa buộc cho, cái này Phật buộc cho, còn cái này bạn buộc cho.
Dây vòng vàng đeo tay là bằng tiền lương tháng đầu tiên. Dây vòng vàng đeo cổ để đeo tên dòng họ. Anh tên là TSHERING WANGDI, 25 tuổi, làm nghề quay phim cho tổ chức truyền thông TARAYANA FOVNDATTON, tên một vị nữ Chúa.
Tôi kể, xưa Việt Nam cũng có tục buộc chỉ cổ tay, nhưng là để trai gái nhắc nhở nhau giữ lời hẹn ước. Tôi cũng đã từng được bà con một bản người Lào hì hục cả buổi chiều làm bánh nếp và trang trí mâm hoa bốn tầng dùng trong lễ buộc chỉ cổ tay cho tôi.
Câu chuyện thân mật như quen biết từ lâu. Anh bạn Myanma ngồi bên làm tôi nhớ đến một người Diến Điện (sau gọi là Miến Điện, giờ là Myanma) từng là Tổng thư ký Liên Hợp quốc. Đấy là người châu Á đầu tiên giữ cương vị ấy. Mấy chục năm sau, giờ đến ông Bankimoon (Hàn Quốc) là người thứ hai.
Anh bạn trẻ bảo có nghe nói như thế, nhưng không nhớ tên. Tôi nhắc, đấy là ông Uthan và hỏi, sao ông ấy mặc váy mà anh không mặc như anh bạn Pu Tan này? Anh bảo có mang đi, nhưng vào một dịp nào đấy trang trọng mới mặc.
Nhờ không khí thân mật nên tôi đánh bạo hỏi, đàn ông Scotlen cũng mặc váy ngắn, tôi nghe, có tờ báo nói ở trong họ không mặc gì… Thế… các anh có mặc gì bên trong không? Mấy cô Việt Nam đỏ mặt.
Tôi phải ép mới dịch, anh ấy bảo có khi có, có khi không. – Khi nào có khi nào không? Cả đám phá lên cười. Không biết anh trả lời thế nào, mấy cô thà chết chứ nhất định không chịu dịch.
Thế đấy, chỉ nói chuyện ăn, chuyện mặc cũng thấy tính nhân loại của mỗi dân tộc. Ai chả phải đưa thức ăn vào miệng. Tôi với các bạn Trung Quốc kia thì dùng đũa. Các bạn Lào (khi ăn xôi), Ấn Độ này thì dùng tay. Có sao đâu. Vẫn cứ sống tốt.
Để che phần dưới cơ thể, chỉ có mấy sự lựa chọn, quần một ống (váy) và quần hai ống hoặc chùm kín mít từ đầu đến chân, chỉ để hở đôi mắt như chị phụ nữ theo đạo Hồi cũng đến đây dự một cuộc hội thảo quốc tế đang ngồi kia.
Bây giờ hầu hết các nước đều đồng thời dùng cả hai hình thức trên. Tính nhân loại vẫn là mẫu số chung của loài người. Sự khác biệt chỉ là tử số rất nhỏ, thuộc về đặc điểm văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán, v.v…
Nhưng dù khác nhau thế nào cũng vẫn tìm ra tiếng nói chung. Mục đích hoạt động trao đổi của FK chính là mang mọi người đến với nhau, để tìm hiểu nhau, trao đổi, học hỏi nhau đặng cùng nhau phát triển.
Chỉ nhắc tên của các nước nhóm trong khóa học này cũng thấy chúng tôi quan tâm đến chuyện gì: Tín dụng nhỏ, Chăm sóc sức khỏe cộng đồng, Truyền thông về môi trường, Nông nghiệp sạch, Quyền con người, Đối thoại hòa bình.
Trước kia tôi chỉ hiểu khoan dung là rộng lượng, bao dung, tha thứ, kiểu đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại. Đến khi biết đến định nghĩa của Liên Hợp quốc về Năm quốc tế khoan dung mới biết đến tầm văn hoá rất cao của khái niệm này.
Khoan dung là hãy chấp nhận sự khác nhau của người khác, kể cả tôn giáo, sắc tộc, chính kiến. FK và AIT đang dạy tôi những bài học về sự khoan dung để hội nhập thế giới. Trong một điều tra xã hội ngắn, giảng viên hỏi các TNV, bạn lo sợ nhất điều gì? Không phải chỉ các bạn Ấn Độ vừa phải chịu một trận khủng bố kinh hoàng thế giới ở Mum bai mà nhiều TNV đều trả lời: nạn khủng bố.
Nguyễn Bắc Sơn
