
Các hệ sinh thái ven biển Việt Nam không suy giảm riêng lẻ, mà đang biến đổi theo chuỗi liên kết. Dữ liệu từ tham luận khoa học cho thấy bức tranh toàn cảnh, và những khoảng trống trong cách chúng ta nhìn nhận.
Hội thảo chuyên đề “Carbon xanh trong các hệ sinh thái ven biển Việt Nam” (Hải Phòng, 20/3/2026) ngoài cung cấp thêm số liệu, đáng chú ý hơn là cách các dữ liệu này, khi đặt cạnh nhau, bắt đầu kể câu chuyện khác, hệ sinh thái ven biển không vận hành riêng lẻ, và cũng không suy giảm theo từng mảnh rời.
Trong tham luận của mình, TS. Nguyễn Đức Thế (Phòng Bảo tồn Biển và Sinh thái Công nghiệp, ISTEE) nhắc lại điểm tưởng như lý thuyết, hệ sinh thái là hệ thống mở, nơi sinh vật và môi trường liên tục trao đổi vật chất, và năng lượng (Odum, 1997; Vũ Trung Tạng, 2009). Nhưng chính từ định nghĩa này, cách đọc dữ liệu thay đổi.
Thay vì nhìn rừng ngập mặn, bãi triều hay san hô như những điểm riêng biệt, chúng cần được đặt trong mạng lưới liên kết, nơi mọi thay đổi đều có thể lan truyền. Nói cách khác, nếu đặt các hệ sinh thái ven biển cạnh nhau, điều hiện rõ hơn danh sách, chúng không đứng độc lập.
Các hệ sinh thái ven biển Việt Nam gồm rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, bãi triều, đầm phá, cửa sông, rạn san hô…
Điểm đáng chú ý, chúng không tách rời, mà tạo thành một chuỗi chức năng liên tục từ đất liền ra biển.
Nhìn từng hệ riêng lẻ, bức tranh có thể chưa rõ. Nhưng đặt cạnh nhau, ba hệ sinh thái rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, và đầm phá cho thấy trục vận hành của vùng ven biển.
Rừng ngập mặn thường được nhắc bằng diện tích, nhưng số liệu này chưa nói hết vai trò của nó. Rừng ngập mặn hiện có khoảng 235.600 ha, với khu vực Cà Mau chiếm hơn 63.000 ha (Phan Nguyên Hồng, 2001; cập nhật 2024). Số liệu thường được nhắc đến như chỉ dấu diện tích.
Nhưng ý nghĩa lớn hơn nằm ở chức năng, đây là hệ vừa lưu trữ carbon, vừa giảm sóng, vừa duy trì nguồn giống. Khi diện tích rừng giảm, các chức năng này không mất đi độc lập, mà suy yếu đồng thời.
Thảm cỏ biển ít được chú ý hơn nhưng lại là nơi các thay đổi diễn ra âm thầm nhất. Thảm cỏ biển với khoảng 15.000 ha (2019), nhưng cho thấy xu hướng khác, thu hẹp và co cụm. Hơn 75% diện tích hiện tập trung ở các đầm phá miền Trung (theo tổng hợp trong tham luận). Co cụm cho thấy thay đổi phân bố, đồng thời là dấu hiệu của hệ sinh thái đang mất dần không gian tồn tại.
Nếu cần nơi để thấy biến động, đầm phá là hệ sinh thái bộc lộ rõ nhất. Đầm phá ven biển, 12 hệ từ Huế đến Khánh Hòa, tổng diện tích gần 437 km² là nơi các biến động dễ nhận thấy nhất. Độ mặn thay đổi từ lợ đến siêu mặn (Nguyễn Văn Quân và cộng sự, 2016), khiến mọi tác động, dù nhỏ, cũng nhanh chóng lan rộng trong toàn hệ. Điểm chung giữa ba hệ này không chỉ là vị trí ven bờ, mà là vai trò trong chu trình carbon.
Rừng ngập mặn, cỏ biển, và đầm phá đều có khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon trong sinh khối, và trầm tích.
Điểm quan trọng không chỉ là lượng hấp thụ, mà là khả năng giữ carbon trong thời gian dài.
Xa hơn, dữ liệu về rạn san hô cho thấy lớp thông tin khác về sức khỏe của hệ sinh thái biển. Việt Nam có khoảng 14.130 ha rạn san hô, với gần 500 loài san hô cứng (Nguyễn Văn Long & Võ Sĩ Tuấn, 2014). Các số liệu thường được dùng mô tả phong phú, nhưng cũng là chỉ báo nhạy cảm, khi san hô suy giảm, chất lượng môi trường biển thường đã thay đổi trước đó.

Gò đồi ngầm, một dạng địa hình dưới biển ít được nhắc tới, cho thấy khoảng trắng dữ liệu. Theo Morato và cộng sự (2010), trên thế giới có khoảng hai triệu cấu trúc dạng này. Riêng Bắc Trung Bộ Việt Nam ghi nhận 18 khu vực tiêu biểu (Nguyễn Văn Quân và cộng sự, 2025). Hiện diện của chúng gợi ý những phần quan trọng của hệ sinh thái biển có thể vẫn chưa được hiểu đầy đủ.
Bãi triều ven biển Việt Nam là nơi cư trú của nhiều loài chim di cư quốc tế.
Tuy nhiên, do địa hình ít nổi bật, khu vực thường bị chuyển đổi mục đích sử dụng nhanh nhất.
Phần cuối của tham luận là nơi dữ liệu bắt đầu cho thấy xu hướng rõ rệt. Nếu nhìn dữ liệu theo thời gian, xu hướng trở nên rõ hơn cả từng số liệu riêng lẻ. Tại khu vực Hải Phòng – Hạ Long, diện tích lấn biển tăng từ khoảng 900 ha (1990–2000) lên gần 7.819 ha (2010–2020) (Đỗ Thị Thu Hương, 2021). Tốc độ tăng cũng nhanh dần theo thời gian.

Bên cạnh mở rộng không gian, các hoạt động ven biển còn đang thay đổi cách hệ sinh thái vận hành.
Đó là chuyển đổi đất, rừng ngập mặn và bãi triều bị thay thế bởi nuôi trồng thủy sản, khu công nghiệp, và đất nền. Dữ liệu từ Cục Kiểm lâm (2017) cho thấy xu hướng kéo dài, diện tích rừng ngập mặn giảm, trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản tăng liên tục từ năm 1950 đến 2015.
Những thay đổi này không dừng ở bề mặt, mà diễn ra trong các dòng chảy ít được thấy hơn. Xây dựng đập và khai thác cát làm giảm lượng trầm tích ra biển, khiến quá trình bồi tụ tự nhiên bị gián đoạn. Kết hợp với nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan, tình trạng mất cân bằng giữa bồi, và xói trở nên rõ hơn.
Điều hiện ra từ toàn bộ chuỗi dữ liệu này là suy yếu của hệ thống liên kết chứ không phải là suy giảm của từng hệ sinh thái.
Nếu cách tiếp cận dừng ở từng phần riêng lẻ, các biến động tiếp tục bị nhìn nhận rời rạc. Nếu đặt chúng trong cùng một khung, dữ liệu bắt đầu chỉ ra hướng khác, cần nhìn hệ sinh thái ven biển như một chỉnh thể và quản lý nó theo cách tương ứng
Trang Hồng (tổng hợp từ tham luận của TS. Nguyễn Đức Thế)
